Home » Khỏe và đẹp » 9 điều ít người biết về hội chứng tự kỷ ở trẻ

9 điều ít người biết về hội chứng tự kỷ ở trẻ

Sự thật về tự kỷ

Hơn 3.5 triệu người lớn và trẻ em ở Mỹ mắc hội chứng rối loạn phổ tự kỷ (ASD). Cứ 68 bé mới sinh thì có một bé bị mắc hội chứng này. Đã có rất nhiều trẻ được chẩn đoán mắc chứng rối loạn phổ tự kỷ trong những năm gần đây. Với sự gia tăng ngày càng lớn của hội chứng rối loạn phổ tự kỷ, nhiều người đã tự tìm hiểu thêm những kiến thức về hội chứng này. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều quan niệm sai lầm về chứng tự kỷ. Dưới đây là 9 điều có thể bạn không biết về chứng rối loạn phổ tự kỷ, bao gồm các triệu chứng, cách trẻ được chẩn đoán, các phương pháp điều trị có sẵn.

9-dieu-it-nguoi-biet-ve-hoi-chung-tu-ky-o-tre

Ảnh: healthycozy.com

Tự kỷ có thể được chẩn đoán ngay từ khi bé còn rất nhỏ

Trẻ em dưới 18 tháng tuổi có thể được chẩn đoán mắc chứng rối loạn tự kỷ. Nhưng hầu hết các chẩn đoán xảy ra ở tháng thứ 24 hoặc lớn hơn. Ở tháng tuổi này, kết quả chẩn đoán sẽ chính xác hơn. Tiến sĩ Alycia Halladay, Giám đốc khoa học của Tổ chức Tự trị Khoa học tại New York cho biết: “Trước đó, trẻ bị chứng tự kỷ sẽ có những biểu hiện rụt rè trong giao tiếp xã hội, nhưng biểu hiện này khá phổ biến ở lứa tuổi của trẻ, do vậy khó có thể phát hiện ra”.

Không có xét nghiệm y khoa hoặc xét nghiệm máu cho chứng tự kỷ, vì vậy các bác sĩ thường đánh giá hành vi của trẻ thông qua kiểm tra quá trình phát triển và sau đó là đánh giá chẩn đoán toàn diện, bao gồm các xét nghiệm về thính giác, thị lực và thần kinh. Bác sĩ cũng có thể đề nghị một cuộc gặp với chuyên gia, chẳng hạn như một bác sĩ nhi khoa phát triển.

Có rất nhiều triệu chứng từ ASD

Hội chứng rối loạn phổ tự kỷ có thể khác nhau tùy thuộc vào từng cá nhân. Đối với một số người, triệu chứng của rối loạn là khá nhẹ, trong khi ở nhiều người khác có những biểu hiện rõ rệt hơn. Tuy nhiên, các triệu chứng của ASD nói chung có khuynh hướng liên quan đến kỹ năng giao tiếp và hành vi xã hội, như những hành vi lén lút, không muốn chơi với các trẻ khác.

Trẻ có rối loạn phổ tự kỷ có thể lặp lại các hành vi nhất định như vỗ tay nhiều lần, hoặc  bị ám ảnh bởi một đồ chơi đặc biệt. Thiếu kỹ năng nói là một trong những triệu chứng phổ biến nhất (20 đến 30% người mắc ASD được ước tính là không nói), nhưng điều này không phải lúc nào cũng đúng.

Các triệu chứng lưu ý dành cho cha mẹ: Nếu trẻ rất nhạy cảm với tiếng ồn, hay lên cơn cáu giận dữ dội, không trả lời, không chỉ các vật thể thú vị thì bạn nên cân nhắc, rất có thể trẻ đã mặc chứng rối loạn phổ tự kỷ.

Hội chứng này ngày càng phổ biến

Số liệu thống kê về chứng tự kỷ rất đa dạng, nhưng CDC ước tính khoảng một trong số 68 trẻ em ở Mỹ mắc chứng rối loạn phổ tự kỷ trong giai đoạn 2000 – 2010, so với một trong 150 trường hợp vào năm 2000.

Alexandra Perryman, nhà phân tích hành vi của Chương trình Tự kỷ Đầu tiên thuộc UPMC Theiss cho biết: “Tôi nghĩ rằng đó có thể là sự kết hợp của tỷ lệ và chẩn đoán”. “Tiêu chuẩn chẩn đoán đang thay đổi và điều đó dẫn đến nhiều trẻ hơn được chẩn đoán mắc hội chứng này”.

Tiến sĩ Halladay cho hay: “Chắc chắn thay đổi tiêu chuẩn chẩn đoán và nhận thức tốt hơn về ASD có ảnh hưởng đáng kể tới chẩn đoán của chuyên gia. Tuy nhiên, không có thể khẳng định nó chính xác 100% đối với nhiều trường hợp”.  

Những bé trai được xác định mắc hội chứng này nhiều hơn bé gái

Các rối loạn phổ tự kỷ xuất hiện nhiều hơn ở nam, gấp khoảng 4,5 lần hơn nữ giới. Mọi người thuộc mọi chủng tộc và sắc tộc có thể được chẩn đoán mắc rối loạn phổ tự kỷ. Mặc dù các bé trai có xu hướng bị chẩn đoán sớm hơn và thường xuyên hơn các bé gái, thì ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy số trường hợp mắc bệnh ASD ở trẻ em gái cũng đang gia tăng đáng kể.

Theo Perryman, việc chẩn đoán cũng có thể bắt nguồn từ suy nghĩ của chính bạn. Bạn cho rằng “các cô gái thường nhút nhát, không có gì lạ nếu các bé gái không nói chuyện và chỉ thích chơi một mình”. Đối với các bé trai, việc các bé chơi với bạn bè và nghịch ngợm là chuyện đương nhiên. Khi bé trai không muốn chơi với bạn bè của mình, điều đó lại dễ bị lầm tưởng là triệu chứng của rối loạn phổ tự kỷ.

Mắc tự kỷ ngay từ trong bụng mẹ.

Hầu hết các chuyên gia đều đồng ý rằng sự kết hợp các yếu tố di truyền và môi trường làm tăng nguy cơ phát triển chứng rối loạn phổ tự kỷ nhưng vẫn còn nhiều điều chưa thể hiểu hết. Có bằng chứng mới cho thấy trẻ em có thể bắt đầu phát triển chứng tự kỷ trước khi chúng được sinh ra. “Đây là một thời điểm rất quan trọng,” Halladay giải thích. Chúng ta biết đó là do sinh non vì đã xác định được các tế bào trong não của những người bị chứng tự kỷ khác nhau. Các tế bào này phát triển trước khi đứa trẻ được sinh ra.

Nghiên cứu dường như gợi ý rằng một số loại thuốc được dùng trong thời kỳ mang thai có thể làm tăng nguy cơ (như valproic acid, thuốc theo toa dùng để điều trị chứng động kinh). Cha mẹ lớn tuổi cũng nguy cơ có con bị chứng tự kỷ cao hơn và một người nguy cơ mắc chứng rối loạn tự kỷ hơn nếu họ có anh chị em ruột bị ASD.

Trẻ tự kỷ có nhiều khả năng bị các bệnh khác

Những người bị chứng rối loạn tự kỷ cũng có nguy cơ cao hơn mắc các bệnh khác. Khoảng 2% người mắc chứng ASD có hội chứng X dễ vỡ, rối loạn di truyền gây ra tình trạng khuyết tật về trí tuệ, khoảng 39% người tự kỷ mắc chứng động kinh khi họ trưởng thành. Hơn nữa, những người mắc ASD cũng có thể dễ bị lo lắng, ADHD, trầm cảm, các vấn đề về ngủ, dị ứng và các vấn đề về dạ dày.

Văcxin không phải là nguyên nhân gây ra tự kỷ

Halladay nói: “Văcxin không phải là một trong những nguyên nhân. Lý thuyết này được bắt đầu sau khi một nghiên cứu nhỏ năm 1998 tuyên bố tìm thấy mối liên quan giữa văcxin phòng sởi, quai bị và sởi Đức với chứng tự kỷ. Nghiên cứu đó đã bị đánh giá là một thiếu sót. Thimerosal, một thành phần văcxin khác đã từng nghĩ là làm tăng nguy cơ tự kỷ, cũng không liên quan đến ASD (từ năm 2001, nó đã được giảm hoặc loại bỏ bằng văcxin). Nghiên cứu tiếp theo đã liên tục tìm ra văcxin an toàn và xác định không có mối liên hệ giữa tiêm chủng trẻ em và chứng tự kỷ.

Cần chữa trị đúng cách

Không có phương pháp chữa hoàn toàn chứng tự kỷ, nhưng can thiệp sớm có thể giúp trẻ em tự kỷ phát triển mạnh. Ứng dụng phân tích hành vi (ABA) và nghề nghiệp, ngôn từ và các liệu pháp vật lý thường được sử dụng. ABA có thể có nhiều bằng chứng nhất. Perryman, một nhà phân tích hành vi cho hay: “Nó hoạt động bằng cách xác định các nguyên nhân tại sao trẻ em lại có các hành vi đó”. “Ví dụ, các hoạt động như giận dữ và vẫy tay thường bị kích hoạt bởi sự thất vọng của việc không thể diễn tả rằng bạn đang đói”.

Bạn cũng có thể sử dụng kỹ năng liên lạc thông qua mắt. Perryman cho biết: “Trẻ càng sớm được chữa trị càng có nhiều lợi ích khi giao tiếp và kỹ năng xã hội”. Ngoài ra còn có các loại thuốc có sẵn để giúp điều trị một số triệu chứng của ASD, như thuốc chống trầm cảm, thuốc chống động kinh, hoặc thuốc giúp tập trung.

Thủy Ngân